Công Cụ Định Giá Cổ Phiếu DCF

Dùng để tính Giá trị cuối cùng (TV)

Dự phóng Dòng tiền Tự do (FCF)

Đơn vị: **VND** (Hàng đơn vị) – Ví dụ: 100,000,000 là 100 triệu VND

Hướng dẫn sử dụng

Đây là phương pháp mà Warren Buffett sử dụng. Dựa trên nguyên tắc rằng giá trị nội tại của một công ty được xác định bằng tổng giá trị hiện tại của tất cả các dòng tiền tự do (FCF) dự kiến trong tương lai. Để thực hiện, nhà đầu tư cần dự báo FCF trong tương lai, chiết khấu về giá trị hiện tại bằng một tỷ lệ chiết khấu thích hợp, và tính toán giá trị nội tại. Warren Buffett nhấn mạnh việc tập trung vào các công ty có khả năng tăng trưởng thu nhập bền vững và mua khi giá thị trường thấp hơn giá trị nội tại.

Công thức tính giá trị doanh nghiệp theo phương pháp chiết khấu dòng tiền

CFt : Dòng tiền tự do ước tính cho năm t
t: năm đang tính toán
r: Tỷ lệ chiết khấu (%), dùng để chiết khấu dòng tiền
TV : Giá trị cuối cùng
WACC : Chi phí vốn chủ sở hữu
g: Tốc độ tăng trưởng vĩnh viễn từ năm n trở đi (%)

Bước 1: Dự báo dòng tiền tự do các năm tới, bạn có thể chọn số năm dự báo, thông thường từ 5-10 năm.

Bước 2: Chọn tỷ lệ chiết khấu r(%), WACC, g(%) và nhập số lượng cổ phiếu của doanh nghiệp

  • Chọn r(%), bằng lãi suất trái phiếu chính phủ dài hạn hoặc có thể cộng thêm phần bù rủi ro theo ngành của cổ phiếu.
  • Chọn WACC: có thể bằng r(%), hoặc tính theo công thức tính chi phí vốn chủ sở hữu sau với r_d = Lấy lãi suất vay trung bình hiện tại của công ty hoặc lãi vay thị trường cho doanh nghiệp tương tự và T là thuế suất thu nhập doanh nghiệp
  • Chọn g bằng tốc độ tăng GDP dài hạn hoặc thấp hơn, thường 2–4% cho thị trường phát triển, 3–5% cho thị trường đang phát triển.
  • Quy tắc bắt buộc: chọn g < WACC.

Bước 3: Máy sẽ tự tính giá trị định giá.

Tại sao tốc độ tăng trưởng vĩnh viên g không được lớn hơn WACC ?

Lỗi về giả định kinh tế

Về mặt kinh tế, một doanh nghiệp không thể duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nói chung trong một khoảng thời gian vô hạn.

  • Không thực tế: Nếu một công ty phát triển nhanh hơn toàn bộ nền kinh tế (đại diện bởi WACC) mãi mãi, thì cuối cùng nó sẽ lớn hơn cả nền kinh tế đó, một kịch bản không thể xảy ra.
  • Sự cạnh tranh: Mức tăng trưởng ổn định vĩnh viễn ngụ ý rằng công ty đã đạt đến giai đoạn trưởng thành, không còn khả năng tăng trưởng đột phá. Tốc độ tăng trưởng này thường chỉ tương đương với tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát hoặc thấp hơn, chứ không thể cao hơn mãi mãi.
  • Chi phí vốn: WACC đại diện cho mức sinh lời tối thiểu mà các nhà đầu tư kỳ vọng từ khoản đầu tư của họ. Nếu doanh nghiệp tăng trưởng nhanh hơn chi phí vốn, họ đang tạo ra giá trị vượt trội. Tuy nhiên, điều này sẽ thu hút thêm các đối thủ cạnh tranh, làm giảm tốc độ tăng trưởng và lợi nhuận về lâu dài. 

Giải pháp khi g lớn hơn WACC

Khi gặp trường hợp g > WACC, nhà phân tích cần xem xét lại các giả định.

  • Kiểm tra lại g: Tốc độ tăng trưởng vĩnh viễn (g) phải là một con số hợp lý, thường trong khoảng 1-3% và không vượt quá tốc độ tăng trưởng GDP dài hạn của nền kinh tế.
  • Đánh giá lại WACC: Chi phí sử dụng vốn (WACC) có thể bị ước tính sai. Cần kiểm tra lại các yếu tố như chi phí vốn chủ sở hữu, chi phí nợ vay và cấu trúc vốn.
  • Điều chỉnh giai đoạn dự phóng: Nếu doanh nghiệp vẫn đang trong giai đoạn tăng trưởng cao, có thể cần kéo dài giai đoạn dự phóng chi tiết (5-10 năm) để phản ánh rõ hơn chu kỳ sống của doanh nghiệp, sau đó mới tính giá trị cuối cùng